Lúc đó, C. còn cười vỗ vai Việt đùa cợt: “Nếu mày bị bắt vào tù, tao sẽ vào thay mày nghe! Cùng lắm, tao sẽ cử thằng Q. Phó Tổng biên tập báo vào ngồi tù thay mày!!!”. Nghe C. nói lạc quan như vậy, Việt cũng chỉ biết thế và an tâm phần nào. Nhìn Tổng biên tập C. lúc bấy giờ, Việt thấy C. rất tin tưởng vào lẽ công bằng trong vụ án này. Nhưng đấy lại chính là sự chủ quan thiếu thực tế đã khiến Việt và cả một số anh em trong toà soạn, trong đó có cả C. phải chịu trận sau này.
Trong chuyến đi ấy, Việt luôn nghĩ về người mẹ già của anh, vì lúc nào cũng lởn vởn trong đầu nỗi lo, nếu anh có bị làm sao thì mẹ sẽ là người suy sụp nhất vì mẹ đã hơn 80 tuổi, già yếu lắm rồi. Việt có cảm giác mình đã là đứa con bất hiếu, vì dường như anh không còn đủ thời gian để sửa chữa một lỗi lầm trước mẹ, để ở bên mẹ và săn sóc tuổi già của mẹ.
Bởi nếu Việt bị bắt thì đấy sẽ là một tai hoạ lớn đối với mẹ, người đặt niềm tin trông cậy vào anh rất nhiều. Niềm hy vọng duy nhất của Việt lúc ấy là đứa con trai lớn, cháu đã ở bên cạnh ông, bà nội từ nhiều năm nay và cháu gần như đã có thể thay anh để gần gũi ông bà lúc sớm tối.
Thương mẹ quá mà chẳng làm gì giúp mẹ được, Việt rưng rưng thấy mình có lỗi với mẹ và đã viết bài thơ “Thời gian nói gì?” trong chuyến đi này để thưa với mẹ những nỗi niềm trăn trở, day dứt đang ám ảnh Việt trong những ngày tháng đó: “Con không còn đủ thời gian/ để sửa chữa một lỗi lầm trước mẹ/ con cũng không đủ sức/ để buộc thời gian quay ngược lại/ cái ngày đầu tiên/ mẹ sinh ra con trên thế gian này/ Mẹ bảo con: Thời gian là đất/ con người đi vào đất/ như đi vào thời gian/ con người để lại trên đất/ những dấu chân cồn cào của hy vọng và khát vọng/ con người để lại trên đất/ những dấu chân ồn ào của cuồng vọng và thất vọng/ nhưng con người không để lại gì trong đất/ ngoài sự lặng yên/rồi mẹ bảo con: Thời gian là nước/ nước xóa trôi / mọi ưu phiền bụi bặm ở trong con/ nước xoa dịu những thương tích nhọc nhằn ở trong con/ những vết bẩn trên mặt con/ nước lau rửa hết/ thời gian là dòng chảy đầu tiên/ cũng là dòng sông cuối cùng/ con người đến tắm lúc trở về với mẹ/ Nhưng rồi/ thời gian không nói gì/ đất không nói gì/ và nước cũng không nói gì...”.
Khi viết bài thơ trên, Việt thực sự cảm thấy mình đang phải đối mặt với một nguy cơ đang đến rất gần- anh có thể bị bắt bất kỳ lúc nào, nếu họ muốn. Thật ra, chuyện này Việt cũng đã nói với Phó Tổng biên tập Q., người đồng nghiệp gần gũi nhất trong suốt gần hai chục năm Việt gắn bó với tờ báo. Việt đã một số lần tâm sự với Q. trong tâm trạng chán nản nhưng không ngại: “Nếu tôi bị họ bắt, ông cùng anh em trong báo lo giúp cho vợ con tôi, tôi sẽ đi tới cùng trong vụ này để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ báo. Tôi sẽ tận dụng thời gian bị giam cầm để làm thơ, để có thời gian viết những bài thơ hay nhất đời mình!”.
Nghe Việt nói, Phó Tổng biên tập Q. cười phá lên chia sẻ: “Ông cứ yên tâm vào trong ấy làm thơ, ngoài này vợ con ông, tờ báo sẽ có trách nhiệm”. Tuy Q. mạnh mồm nói thế, nhưng Việt biết trong thâm tâm mình, Q. không hề tin rằng Việt sẽ bị bắt. Bởi Q. tin tưởng vào những chứng cứ, tài liệu Việt thu thập được một cách khá thận trọng trong thời gian viết loạt bài điều tra về vụ án tham nhũng này.
Thậm chí, có một số thông tin “động trời” trong vụ án phức tạp này, Phó Tổng biên tập Q. biết rõ cả người đến tận toà soạn báo ở Hà Nội cung cấp tin cho Việt. Nên anh tin tưởng loạt bài điều tra của Việt đã nói lên sự thật của vụ án này. Khi mong manh linh cảm thấy chuyện có thể xảy ra, Việt bảo Q. “Mình phải bay vào Sài Gòn báo cáo với lãnh đạo của báo để trù liệu, tính toán trước khả năng xấu nhất cho anh em trong báo chủ động”. Q. đồng ý ngay và bảo văn phòng đặt vé máy bay cho Việt.
Trong vài ngày ở Sài Gòn, Việt đã tường trình hết với Tổng biên tập C. và các phó tổng biên tập khác về sự thật của vụ án này và các bằng chứng mà qua việc tác nghiệp Việt còn lưu giữ lại. Ban biên tập đã xem xét các bằng chứng liên quan đến việc điều tra vụ án này. Đặc biệt, Việt đưa ra nội dung ghi được từ 2 cuộn băng ghi âm buổi làm việc với sỹ quan V., điều tra viên của phòng được giao nhiệm vụ điều tra vụ án.
Sỹ quan V. đã nhiều lần trực tiếp tới toà soạn báo của Việt ở Hà Nội để cung cấp cho báo nhiều chi tiết quan trọng về việc điều tra vụ án này. Lúc sỹ quan V. cung cấp thông tin cho Việt tại toà soạn, buổi đầu tiên có mặt cả Phó Tổng biên tập Q.; buổi thứ hai, ngoài Việt và Q., còn có thêm cả Phó Tổng biên tập T. vừa từ Sài Gòn bay ra. Nội dung 2 buổi sỹ quan V. này cung cấp thông tin cho báo đều được Việt bí mật ghi âm lại để làm bằng chứng.
Sau khi nghe Việt trình bày xong về nội dung các băng ghi âm trên, các lãnh đạo báo đều cho rằng đây là những bằng chứng sự thực về vụ án này, là bằng chứng sống còn đối với Việt và tờ báo. Mọi người tỏ ra rất yên tâm và tin tưởng vào quá trình tác nghiệp khá thận trọng của Việt trong việc nắm bắt các thông tin điều tra từ vụ án phức tạp này. Là một người khá cẩn thận và cũng để đề phòng chuyện mình có khả năng bị bắt, trong mấy ngày ở Sài Gòn, Việt đã âm thầm viết một loạt bài báo tường trình lại quá trình điều tra tác nghiệp, thu thập thông tin để viết các bài về vụ án nghiêm trọng nói trên.
Việt đưa bản thảo những bài viết chuẩn bị trước cho một số người có trách nhiệm trong ban biên tập, cùng với những bằng chứng kèm theo, và nói: “Nếu họ khởi tố, bắt tôi, các anh cứ việc lần lượt đăng những bài viết này trên báo mình, để cho độc giả cả nước thấy rõ của vụ án này...”. Lúc đó, Phó Tổng biên tập T. đã nói vui để động viên Việt: “Họ không dám làm chuyện ấy đâu...”. Sau này, Việt không ngờ câu nói của Phó Tổng biên tập T. đã trở thành một sự thật nghiệt ngã.
Tiểu thuyết tự truyện của nhà thơ, nhà báo NGUYỄN VIỆT CHIẾN
Không có nhận xét nào: